Tết sum vầy chào đón xuân Bính Ngọ 2026
.png)
Trước những kết quả đạt được trong năm học vừa qua, năm học 2026-2027, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đặt ra nhiều nhiệm vụ trọng tâm ở lĩnh vực giáo dục đại học.
Đặt nhiệm vụ theo 16 chỉ số của Chiến lược phát triển giáo dục đại học
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2026-2027 được đặt trong một khung quản trị mới: mục tiêu phải đo được, dữ liệu phải đối soát, nhiệm vụ phải có sản phẩm và người chịu trách nhiệm.
Từ các chỉ tiêu của Chiến lược phát triển giáo dục đại học đến đổi mới chương trình trong bối cảnh AI, báo cáo xác định một lộ trình hành động tập trung vào chất lượng thực, quản trị số và tác động sau tốt nghiệp.
Cụ thể, nhiệm vụ năm học 2026-2027 được đặt theo 16 chỉ số của Chiến lược phát triển giáo dục đại học ban hành kèm Quyết định 1810/QĐ-TTg ngày 18/9/2026, đồng thời gắn với các chỉ tiêu trong chương trình, nghị quyết và kết luận liên quan.

Các chỉ số đo lường của Chiến lược phát triển giáo dục đại học ban hành theo Quyết định 1810/QĐ-TTg ngày 18/9/2026.
Điểm cốt lõi của cách tiếp cận này là mỗi nhiệm vụ phải gắn với một kết quả có thể đo lường. Nguyên tắc được đặt ra là: “Một chỉ tiêu, một số liệu đã đối soát, một đầu mối chịu trách nhiệm”.
Trong đó, một số chỉ số đã tiến gần mục tiêu 2030: 96,3% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn so với mục tiêu 100%; tỷ lệ người học đại học trong nhóm tuổi 18-22 đạt 35,4% so với mục tiêu 38%; tỷ lệ người học STEM đạt 32,63% so với 35%; tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt 36,3% so với 40%.
Tuy nhiên, nhiều chỉ tiêu vẫn còn khoảng cách giữa thực tế và mục tiêu đến năm 2030. Tỷ lệ cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn hiện ở mức 96,3%, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là 100%; tỷ lệ người trong độ tuổi 18-22 học đại học đạt 35,4%, thấp hơn mục tiêu 38%.
Tỷ lệ người học các ngành STEM hiện đạt 32,63%, trong khi mục tiêu là 35%; tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt 36,3%, thấp hơn mục tiêu năm 2030 là 40%. Đặc biệt, tỷ lệ người học sau đại học mới đạt 5,3%, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là 10%.
Ở nhóm chỉ tiêu về quốc tế hóa và đầu tư cho khoa học, công nghệ, khoảng cách cũng còn lớn. Sinh viên quốc tế hiện chiếm khoảng 0,8% tổng số người học, trong khi mục tiêu là 1,5%; tỷ trọng đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt 4,94%, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 10%.
Những khoảng cách này cho thấy nhiệm vụ của năm học mới không chỉ là duy trì tốc độ phát triển, mà còn phải xác định rõ chỉ tiêu nào cần tăng tốc, nguồn lực nào cần ưu tiên và kết quả nào phải được kiểm chứng.
Đưa chiến lược vào những sản phẩm cụ thể
Theo báo cáo, tiến độ, đầu mối, nguồn lực và sản phẩm của 40/46 nhiệm vụ chiến lược sẽ được rà soát, đồng thời các mốc kiểm tra phải được công khai. Đây là bước chuyển từ xác định nhiệm vụ trên văn bản sang quản trị bằng tiến độ và kết quả.
Các mốc kiểm tra cần được công khai để từng nhiệm vụ có thể theo dõi trong suốt quá trình triển khai. Việc phân bổ ngân sách cũng được đặt trong mối quan hệ với sứ mạng, chất lượng và hiệu quả thay vì chỉ dựa trên quy mô hoạt động.
Nguồn lực đào tạo cũng cần được gắn chặt hơn với nhu cầu phát triển và nghiên cứu. Đặt hàng đào tạo phải đi cùng yêu cầu về kết quả nghiên cứu, sản phẩm và khả năng đáp ứng nhu cầu nhân lực.
Cùng với đó, nền tảng quản lý nguồn nhân lực quốc gia cần được hoàn thiện; các vấn đề về đất đai, cơ sở hạ tầng, di dời, mở rộng trường, phòng thí nghiệm và trang thiết bị cần được xử lý theo định hướng phát triển dài hạn.
Học thật, thi thật, chất lượng thật
Bộ cũng chỉ rõ, trong năm học mới, chất lượng bên trong và hậu kiểm được xác định là hai trụ cột. Mỗi cơ sở phải đánh giá mức đạt chuẩn đầu ra, kiểm soát phân bố điểm và kết quả học tập để văn bằng phản ánh đúng năng lực. Hoạt động kiểm tra, đánh giá phải thích ứng với AI; dữ liệu chất lượng cần liên thông với chuẩn chương trình, năng lực, việc làm và thu nhập sau tốt nghiệp.
Ở cấp hệ thống, các chỉ số phải được công bố định kỳ; kiểm định độc lập cần dựa trên kết quả đầu ra và rủi ro; bản thân hoạt động kiểm định cũng phải được giám sát chất lượng. Báo cáo yêu cầu xây dựng văn hóa thực học, thực nghiệp, kiểm soát lạm phát điểm số. Sản phẩm cụ thể của năm học là mỗi cơ sở có kế hoạch cải tiến sau kiểm định, xác định người phụ trách, thời hạn và minh chứng hoàn thành. Điều này tạo một vòng khép kín từ đánh giá đến cải tiến, thay vì dừng ở chứng nhận.
Dữ liệu tin cậy làm nền tảng quản trị
Một hệ thống quản trị hiện đại không thể vận hành nếu mỗi nơi sử dụng một cách hiểu và một bộ số liệu khác nhau. Vì vậy, báo cáo đã đã đặt ra nhiệm vụ về việc chuẩn hóa dữ liệu và xây dựng một hệ thống dữ liệu có khả năng kết nối đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với giáo dục đại học.
Nền tảng dữ liệu cần từng bước kết nối với dữ liệu dân cư, khoa học, tài chính, bảo hiểm, thuế và việc làm. Các mã định danh cũng cần được thống nhất để dữ liệu có thể liên thông giữa các hệ thống.

Ảnh tạo bằng AI.
Từ tuyển sinh, quy mô người học, đội ngũ đến kết quả đào tạo, việc làm, nghiên cứu khoa học và quốc tế hóa, các nhóm dữ liệu cần được đặt trong cùng một hệ thống theo dõi. Khi đó, cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục đại học có thể sử dụng dữ liệu để phát hiện xu hướng, nhận diện rủi ro và điều chỉnh chính sách.
Cùng với số hóa toàn bộ quy trình, yêu cầu đặt ra là dữ liệu phải “đúng, đủ, sạch, sống”. Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là điều kiện để chuyển từ quản lý dựa trên báo cáo sang quản trị dựa trên dữ liệu
Đổi mới đào tạo trong kỷ nguyên AI
Trong bối cảnh hiện nay, nhiệm vụ quan trọng được đặt ra chính là chuẩn đầu ra cần được rà soát, chương trình không đạt chuẩn phải dừng; năng lực AI phải được đưa vào chương trình phù hợp thông qua các mô hình AI+X, X+AI. Mục tiêu không chỉ là mở thêm ngành AI, mà là giúp từng ngành nhận diện năng lực AI cần thiết cho người học.
Song song với đó, cách học và đánh giá cũng phải thay đổi. Báo cáo đề xuất tăng dự án thực tế, nghiên cứu và học tập cá thể hóa; kiểm chứng năng lực qua sản phẩm, thực hành và vấn đáp. Trường đại học cần gắn với doanh nghiệp, hiệp hội và các bài toán thực tiễn của người dân, tổ chức. Doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình và đánh giá người học. Việc liên thông tín chỉ, chứng chỉ giáo dục đại học với dữ liệu việc làm sẽ tạo căn cứ cải tiến chương trình. Như vậy, việc đào tạo thích ứng với AI phải đồng thời đổi nội dung, phương pháp và cách xác nhận năng lực.
Đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu trọng điểm
Thước đo chất lượng được mở rộng ra ngoài thời điểm tốt nghiệp. Theo báo cáo, hệ thống hỗ trợ nghề nghiệp phải kết nối doanh nghiệp và cựu sinh viên; theo dõi mức độ phù hợp của việc làm, thu nhập, tiến triển nghề nghiệp và đóng góp xã hội thông qua dữ liệu thu nhập, bảo hiểm, thuế và việc làm. Đây là cơ sở để đánh giá đầu ra bằng kết quả thực tế của người học.
Song song với việc theo dõi người tốt nghiệp là đầu tư nghiên cứu trọng điểm. Báo cáo đặt mục tiêu xây dựng 20-25 trung tâm xuất sắc cấp quốc gia và 10 trung tâm cấp quốc tế; hình thành 30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm và 3-5 đại học tinh hoa; gắn phòng thí nghiệm với doanh nghiệp và đại học uy tín. Tác động đầu tư sẽ được đo bằng việc làm phù hợp, sản phẩm nghiên cứu, sở hữu trí tuệ và chuyển giao. Trọng tâm vì thế chuyển từ quy mô đầu tư sang kết quả mà đầu tư tạo ra.
Nhìn chung, năm học 2025-2026 đã tạo chuyển biến bước đầu về tư duy quản trị, cơ cấu đào tạo và tuyển sinh, phát triển đội ngũ, nghiên cứu khoa học, xếp hạng và quản trị theo chuẩn. Những chuyển biến này đã góp phần tạo đà để năm học 2026-2027 hướng tới các mục tiêu năm 2030.
.png)
