Đại hội Công đoàn bộ phận Kế hoạch Tài vụ nhiệm kỳ 2018 – 2023
.jpg)
Theo Văn bản số 8562/BGDĐT-TCCB của Bộ Giáo dục và Đào tạo, những ngành, lĩnh vực không còn mang tính thiết yếu, khó thu hút người học hoặc không còn phù hợp với nhu cầu xã hội sẽ được xem xét điều chỉnh, sắp xếp lại.
Tuy nhiên, theo quan điểm của một số lãnh đạo cơ sở giáo dục đào tạo trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và thú y, việc sắp xếp ngành học, đặc biệt là các ngành khoa học cơ bản cần được nhìn nhận một cách toàn diện và trong tầm nhìn dài hạn, thay vì chỉ dựa vào số lượng tuyển sinh của từng năm.
Nhận thức xã hội và xu hướng chọn ngành khiến khối nông, lâm, thủy sản kém hấp dẫn
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Văn – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế cho biết, các ngành thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và thú y hiện đang gặp nhiều khó khăn trong công tác tuyển sinh do tác động từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, công tác hướng nghiệp ở bậc phổ thông vẫn chưa thực sự hiệu quả, khiến học sinh chưa có nhận thức đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của các ngành này. Không ít phụ huynh và học sinh vẫn cho rằng theo học các ngành nông nghiệp sẽ vất vả, từ đó ảnh hưởng đến lựa chọn ngành nghề của thí sinh.
Thứ hai, xu hướng lựa chọn ngành nghề của thí sinh hiện nay thường chịu tác động bởi “trào lưu” của một số ngành học, thay vì cân nhắc dựa trên cơ hội việc làm và thu nhập sau khi tốt nghiệp. Trong khi nông nghiệp được xác định là một trong những trụ đỡ của nền kinh tế, lĩnh vực này vẫn chưa có những chính sách đủ mạnh để hỗ trợ các cơ sở đào tạo, như nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất hay có cơ chế hỗ trợ học phí, học bổng cho sinh viên khối ngành nông, lâm, ngư nghiệp.
Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Văn, tại Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, từ năm 2019 đến nay, tỷ lệ tuyển sinh của hầu hết các ngành chỉ đạt khoảng 50% chỉ tiêu. Trong đó, một số ngành có mức tuyển sinh tương đối tốt như Thú y, Chăn nuôi, Nuôi trồng thủy sản, Quản lý đất đai. Tuy nhiên, nhiều ngành truyền thống và là thế mạnh của nhà trường như Nông học, Phát triển nông thôn, Lâm nghiệp lại đang gặp nhiều khó khăn trong công tác tuyển sinh.
Bên cạnh đó, thầy Văn cũng chỉ ra nhiều thách thức trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Theo thầy, trước hết là những khó khăn liên quan đến đội ngũ giảng viên và cán bộ phục vụ đào tạo, từ năng lực chuyên môn đến chế độ thu nhập. Chất lượng đầu vào của sinh viên cũng là một vấn đề đáng quan tâm khi điểm chuẩn và số lượng tuyển sinh chưa cao, trong khi nhiều sinh viên có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Ngoài ra, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học trong khối ngành này đòi hỏi mức đầu tư lớn, từ giảng đường, phòng thí nghiệm, trại thực hành đến các cơ sở sản xuất như nông hộ, trang trại, nhà máy, doanh nghiệp để sinh viên có môi trường học tập gắn với thực tiễn. Cùng với đó, các chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và đánh giá người học cũng cần liên tục đổi mới để đáp ứng nhu cầu của xã hội, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Văn – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế. Ảnh: NVCC
Đồng quan điểm, Tiến sĩ Nguyễn Minh Anh Tuấn – Hiệu trưởng Trường Đại học Tân Trào cũng cho rằng, nhận thức của xã hội về các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp hiện nay vẫn còn mang nặng tính truyền thống, thường gắn với hình ảnh lao động vất vả, thu nhập chưa cao và cơ hội phát triển nghề nghiệp hạn chế. Điều này khiến nhiều học sinh và phụ huynh có xu hướng lựa chọn các ngành được cho là “hiện đại” hơn như kinh tế, công nghệ thông tin, marketing… thay vì các ngành liên quan đến nông nghiệp.
“Một nghịch lý đang tồn tại là nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, song các ngành đào tạo liên quan lại chưa thu hút được nhiều người học. Nguyên nhân một phần đến từ khoảng cách giữa hình ảnh truyền thống của ngành với thực tiễn chuyển đổi mạnh mẽ của nền nông nghiệp hiện đại. Nhiều người vẫn hình dung nông nghiệp theo cách tiếp cận sản xuất nhỏ lẻ, trong khi trên thực tế lĩnh vực này đang phát triển theo hướng ứng dụng công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa”, thầy Tuấn cho hay.
Cũng theo Hiệu trưởng Trường Đại học Tân Trào, mô hình đào tạo của một số cơ sở giáo dục đại học hiện nay vẫn chưa theo kịp sự thay đổi của ngành nông nghiệp, đặc biệt trong việc tích hợp công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại sản xuất. Khi chương trình đào tạo chưa phản ánh đầy đủ tính hiện đại và triển vọng nghề nghiệp của ngành, sức hút đối với người học cũng bị ảnh hưởng.
Chia sẻ thêm, thầy Tuấn cho biết Trường Đại học Tân Trào đang từng bước đổi mới chương trình đào tạo theo hướng gắn với nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn bền vững. Đồng thời tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, hợp tác xã và các mô hình sản xuất tại địa phương.
Nhà trường cũng đẩy mạnh hoạt động thực hành, thực tập tại doanh nghiệp, trang trại công nghệ cao nhằm giúp sinh viên sớm tiếp cận môi trường nghề nghiệp và nâng cao năng lực ứng dụng. Song song với đó, công tác truyền thông ngành học cũng được chú trọng theo hướng làm nổi bật tiềm năng nghề nghiệp, cơ hội đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp hiện đại.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Anh Tuấn - Hiệu trưởng Trường Đại học Tân Trào. Ảnh: website nhà trường.
Cần chính sách đủ mạnh để tăng sức hút khối ngành nông, lâm, thủy sản
Theo Tiến sĩ Trần Hải Đăng - Phó Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, mặc dù nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế Việt Nam, sức hút của các ngành đào tạo liên quan vẫn chưa tương xứng do nhiều yếu tố.
Bởi thực tế nền nông nghiệp Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, trở thành ngành xuất khẩu tỷ đô với việc ứng dụng công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, hệ thống hướng nghiệp ở bậc phổ thông vẫn chưa phản ánh đầy đủ bức tranh này.
“Hiện nay, học sinh ít khi được hình dung về những vị trí nghề nghiệp mới trong lĩnh vực nông nghiệp như kỹ sư vận hành drone nông nghiệp hay chuyên gia quản lý chuỗi cung ứng nông sản. Khi hình ảnh ngành nghề chưa được truyền tải đầy đủ, sức hút đối với người học cũng bị bỏ ngỏ”, thầy Đăng chia sẻ.
Bên cạnh đó, dù là nhóm ngành có vai trò nền tảng đối với nền kinh tế quốc gia, các ngành đào tạo nông, lâm nghiệp hiện vẫn phải cạnh tranh trực tiếp với những lĩnh vực đang được nhiều thí sinh lựa chọn như kinh tế, dịch vụ hay công nghệ thông tin. Trong khi đó, các chính sách hỗ trợ vĩ mô dành cho khối ngành này vẫn chưa thực sự rõ nét.
“Nếu thiếu các chính sách mang tính đòn bẩy như học bổng, hỗ trợ học phí hay các quỹ khởi nghiệp chuyên biệt cho sinh viên khối ngành nông, lâm, thủy sản, thì rất khó để tăng sức hút của ngành trong bối cảnh cạnh tranh ngành nghề ngày càng lớn”, thầy Đăng nhận định.
Mặt khác, thầy Đăng cũng chỉ ra thực trạng chương trình đào tạo và phương thức tuyển sinh ở một số cơ sở giáo dục đại học vẫn chưa phản ánh đầy đủ sự chuyển dịch của nền nông nghiệp hiện đại như nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp số hay kinh tế tuần hoàn. Công tác truyền thông ngành học cũng chưa đủ mạnh để thay đổi nhận thức xã hội về lĩnh vực này.
Liên quan đến Văn bản số 8562/BGDĐT-TCCB của Bộ Giáo dục và Đào tạo về định hướng sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập, trong đó nêu rõ những ngành đào tạo không thiết yếu, nhiều năm không tuyển sinh được hoặc không còn nhu cầu xã hội sẽ được xem xét sắp xếp lại, thầy Đăng cho rằng chủ trương rà soát các ngành đào tạo là cần thiết.
Tuy nhiên, đối với những ngành mang tính nền tảng như nông, lâm nghiệp thì không nên chỉ đánh giá dựa trên số lượng tuyển sinh đầu vào.
“Các ngành như Khoa học cây trồng, Lâm sinh, Khuyến nông hay Nuôi trồng thủy sản có thể ít người học, nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực và bảo vệ hệ sinh thái. Thực tế có những ngành tuyển sinh đầu vào khó khăn nhưng sinh viên tốt nghiệp lại được doanh nghiệp tuyển dụng hết, thậm chí chưa ra trường đã có đơn vị đặt vấn đề tuyển dụng”, thầy Đăng chia sẻ.
Do đó, theo Tiến sĩ Trần Hải Đăng, hiệu quả của một ngành đào tạo cần được đánh giá thông qua tỷ lệ sinh viên có việc làm đúng chuyên môn sau khi tốt nghiệp cũng như đóng góp của ngành đó đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, thay vì chỉ dựa vào số lượng hồ sơ đăng ký.

Tiến sĩ Trần Hải Đăng - Phó Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên. Ảnh: NVCC
Để nâng cao chất lượng và sức hút của khối ngành nông, lâm, thủy sản, cần có sự phối hợp từ nhiều phía. Về phía cơ sở đào tạo, các trường cần tăng cường liên kết với doanh nghiệp để xây dựng chương trình đào tạo sát với nhu cầu thực tiễn, đồng thời mời các chuyên gia, kỹ sư từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy.
Bên cạnh đó, cần mở rộng các chương trình trao đổi, thực tập quốc tế tại những quốc gia có nền nông nghiệp phát triển như Israel, Nhật Bản, Đan Mạch hay Australia nhằm nâng cao năng lực chuyên môn và vị thế của ngành học.
Về phía Nhà nước, theo thầy Đăng cần có các chính sách hỗ trợ học phí, sinh hoạt phí cho sinh viên theo học các ngành nông, lâm, thủy sản trọng điểm, tương tự như chính sách đã được áp dụng đối với khối ngành sư phạm.
Đồng thời, Nhà nước nên có cơ chế đặt hàng đào tạo đối với các trường đại học nông lâm trọng điểm vùng nhằm duy trì đội ngũ chuyên gia và các ngành đào tạo nền tảng, tránh nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai.

Để nâng cao chất lượng và sức hút của khối ngành nông, lâm, thủy sản, cần có sự phối hợp từ nhiều phía. Ảnh: website Trường ĐH Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên.
Còn theo quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Minh Anh Tuấn, hiệu quả của một ngành học không nên chỉ được đánh giá dựa trên quy mô tuyển sinh, đặc biệt đối với các lĩnh vực khoa học cơ bản hoặc những ngành mang tính nền tảng, chiến lược. Theo thầy Tuấn, nhiều ngành khoa học cơ bản, nông nghiệp hoặc các lĩnh vực chuyên sâu có thể chưa thu hút đông người học trong ngắn hạn, nhưng lại giữ vai trò quan trọng trong phát triển khoa học – công nghệ cũng như bảo đảm nguồn nhân lực cho các lĩnh vực then chốt của quốc gia trong dài hạn.
Do đó, khi xem xét việc sắp xếp hoặc tổ chức lại ngành đào tạo, cần đánh giá trên nhiều tiêu chí khác nhau, như vai trò chiến lược của ngành đối với phát triển kinh tế – xã hội, nhu cầu nhân lực trong dài hạn, đóng góp cho nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, cũng như khả năng liên kết với các lĩnh vực đào tạo khác.
Để nâng cao chất lượng và sức hấp dẫn của các ngành nông, lâm, thủy sản, Hiệu trưởng Trường Đại học Tân Trào nhấn mạnh sự phối hợp đồng bộ giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và Nhà nước.
Về phía các trường đại học, theo thầy cần tiếp tục đổi mới chương trình đào tạo theo hướng liên ngành và gắn với thực tiễn sản xuất, tích hợp các nội dung như nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số trong nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp và quản trị chuỗi giá trị nông sản. Đồng thời, các cơ sở đào tạo cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, hợp tác xã, viện nghiên cứu nhằm mở rộng môi trường thực hành, thực tập và nghiên cứu ứng dụng cho sinh viên.
Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp tại các trường đại học cũng được xem là yếu tố quan trọng, qua đó khuyến khích sinh viên phát triển các ý tưởng đổi mới sáng tạo và các mô hình kinh doanh nông nghiệp bền vững ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Chương trình đào tạo nông nghiệp cần tích hợp các nội dung về nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số trong nông nghiệp... Ảnh: NVCC
Về phía nhà nước, Tiến sĩ Nguyễn Minh Anh Tuấn cho rằng cần có những chính sách ưu tiên đủ mạnh đối với người học các ngành nông nghiệp, tương tự như chính sách đã và đang áp dụng đối với sinh viên sư phạm. Các chính sách có thể bao gồm học bổng, hỗ trợ học phí, tín dụng ưu đãi hoặc cơ chế thu hút sinh viên sau tốt nghiệp làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Ngoài ra, việc tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển các trung tâm nông nghiệp công nghệ cao cũng sẽ góp phần nâng cao vị thế và sức hấp dẫn của các ngành đào tạo trong lĩnh vực này.
“Khi nông nghiệp được nhìn nhận như một lĩnh vực kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo, các ngành đào tạo liên quan sẽ ngày càng thu hút nhiều người học có năng lực và mong muốn đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước”, Tiến sĩ Tuấn kỳ vọng.
.jpg)
